Vinh Tạ

Vinh Tạ

Ngày 30/10, VinaPhone vừa chính thức thông báo từ ngày 14/11/2014 tới đây sẽ bán sản phẩm iPhone 6 và iPhone 6 Plus chính hãng.

Đây là dòng sản phẩm tiến tiến nhất hiện nay trong lịch sử các sản phẩm iPhone. Thông tin về giá bán sản phẩm, các gói cước ưu đãi đi kèm sẽ được VinaPhone thông báo tới khách hàng trong thời gian sớm nhất. Mọi thông tin chi tiết về sản phẩm iPhone 6 và iPhone 6 Plus, khách hàng có thể xem tại http://iphone.vinaphone.com.vn hoặc truy cập www.apple.com/iphone.

Được biết, từ tháng 3/2010, VinaPhone trở thành nhà phân phối iPhone tại Việt Nam: lần lượt với các sản phẩm iPhone 3, iPhone 4, iPhone 5 và sắp tới là iPhone 6. Để tránh tình trạng mạo danh Vinaphone, khách hàng cần lưu ý iPhone do VinaPhone phân phối chỉ được bán tại các cửa hàng, đại lý chính thức của VinaPhone, hoặc liên hệ 18001091, 9191 để được tư vấn, giải đáp.

 

Vượt qua các bài toán đo kiểm độc lập và gắt gao của MEF với các tiêu chí đã được chuẩn hóa quốc tế, 3 dịch vụ Ethernet của VNPT gồm: MetroNET, VPN/VNN, I-VPN đã được nhận chứng nhận mới nhất của MEF cho dịch vụ E-Line, E-LAN và E-Tree: Chứng nhận CE2.0.

Công nghệ Ethernet được hầu hết các nhà cũng cấp thiết bị trên thế giới hỗ trợ. Tại Việt Nam, các nhà cung cấp và khách hàng vẫn quen với tên thương hiệu là: Mạng MAN-E. Là dịch vụ có chi phí đầu tư và vận hành thấp, đơn giản vì có thể ứng dụng rộng rãi, độ linh động cao, đó là các tiêu chí khiến mạng MAN-E nhận được sự tin tưởng từ khách hàng. Công nghệ mạng này đã được một số nhà cung cấp viễn thông Việt Nam triển khai và đưa vào khai thác thành công, trong đó có VNPT. Mới đây, VNPT đã trở thành doanh nghiệp đầu tiên và duy nhất tại Việt Nam được nhận chứng chỉ mới nhất của MEF - Chứng nhận CE2.0 cho các dịch vụ phát triển trên nền công nghệ MAN-E là: MetroNET, VPN/VNN và I-VPN.


MetroNET là dịch vụ cung cấp các tuyến kết nối để kết nối các điểm với nhau để trao đổi thông tin, dữ liệu . . . thông qua cổng Ethernet của mạng MAN-E . Bởi thế, dịch vụ này rất thích hợp cho các doanh nghiệp lớn và vừa có nhu cầu kết nối mạng giữa các chi nhánh, đại lý, cửa hàng với nhau và với trụ sở chính. Các Ngân hàng có thể sử dụng để kết nối chi nhánh, phòng giao dịch về trụ sở chính. Các khách hàng có nhu cầu nối mạng và truy cập Internet khi sử dụng MetroNET sẽ tiết kiệm được chi phí trang thiết bị và cước sử dụng hàng tháng.

Hiện nay, dịch vụ MetroNET của VNPT có 5 gói dịch vụ MetroNET cơ bản gồm: MetroNET Alpha, MetroNET Alpha+, MetroNET Beta, MetroNET Beta+ và MetroNET Gamma với các dịch vụ cơ bản là Internet FTTH, MetroNET VPN nội hạt và Web - Mail Hosting. Các dịch vụ cộng thêm gồm: Tổng đài ảo (IP Centrex), Contact Center và VPN liên tỉnh, quốc tế.

VPN/VNN là dịch vụ mạng riêng ảo của VNPT do Công ty VDC cung cấp từ cuối tháng 11/2003. Với chi phí đầu tư hiệu quả, đáp ứng mô hình điểm – đa điểm và chi phí sử dụng rẻ hơn tới 50% so với công nghệ truyền thống, dịch vụ VPN của VDC/VNPT là giải pháp hiệu quả cho các doanh nghiệp muốn duy trì một mạng riêng kết nối giữa các trụ sở chi nhánh và các nhân viên hoạt động ở ngoài công ty.Dịch vụ VPN/VNN của VDC/VNPT đã và đang chiếm lĩnh thị trường truyền số liệu và đạt được sự tín nhiệm tối đa của khách hàng, đặc biệt là khối khách hàng trong lĩnh vực ngân hàng, chứng khoán.

I-VPN là tên thương hiệu của Dịch vụ thuê kênh ảo quốc tế do Công ty VNPT-I, đơn vị thành viên VNPT đưa vào cung cấp từ cuối tháng 3/2007. Đây là dịch vụ cung cấp kênh liên lạc dành riêng, điểm nối điểm, điểm nối đa điểm đáp ứng nhu cầu liên lạc toàn cầu đặc biệt quan trọng của các doanh nghiệp. Sử dụng công nghệ chuyển mạch nhãn MPLS, công nghệ đang được áp dụng phổ biến, rộng rãi nhất trên mạng tích hợp hiện nay, dịch vụ I-VPN được xem là giải pháp lý tưởng trong công việc kinh doanh quốc tế bởi chất lượng, tính linh hoạt, độ an toàn và tính bảo mật cao

Với dịch vụ Mạng riêng ảo quốc tế I-VPN, khách hàng chỉ phải trả một khoản phí cố định hàng tháng để sử dụng đường liên lạc 24/24 giờ. Tuỳ theo nhu cầu sử dụng của doanh nghiệp mình, khách hàng có thể thuê kênh với tốc độ từ 64Kb/s lên tới 155Mb/s có đăng ký tốc độ cam kết hoặc không đăng ký sử dụng.

MEF là một liên minh chuyên ngành toàn cầu,  nơi tập trung các doanh nghiệp hàng đầu. Hiện, MEF có khoảng của hơn 170 thành viên tham gia, đó là các nhà cung cấp dịch vụ viễn thông, nhà khai thác hệ thống cáp, nhà sản xuất thiết bị mạng lưới/phần mềm, nhà cung cấp thiết bị bán dẫn và các tổ chức đo kiểm. Sứ mệnh của MEF là thúc đẩy việc ứng dụng các mạng lưới và dịch vụ Ethernet chuyên nghiệp trên toàn cầu, xây dựng và tạo môi trường cho việc triển khai các tiêu chuẩn mới.

Các tiêu chí kỹ thuật, các bài đo kiểm của MEF đều được chuẩn hóa quốc tế. Vì vậy, các chứng chỉ, chứng nhận này sẽ góp phần xây dựng uy tín, thương hiệu sản phẩm, dịch vụ (SPDV) của nhà cung cấp, các doanh nghiệp được MEF chứng nhận. Để được cấp chứng nhận của MEF, VNPT phải tham gia các bài đo đã được chuẩn hóa quốc tế với rất nhiều tiêu chí. Việc tham gia các bài đo với quy trình, thiết bị hiện đại và do các chuyên gia của MEF thực hiện sẽ giúp VNPT có đánh giá chính xác nhất về năng lực mạng lưới, hiệu quả sử dụng, từ đó có thể đưa ra các phương án tối ưu tài nguyên trên mạng lưới.

 

Theo thống kê của Sách trắng CNTT&TT Việt Nam năm 2014 vừa được phát hành chiều ngày 27/10, thị phần Internet băng rộng cố định của VNPT là trên 51,2%. Riêng ở thị trường dịch vụ 3G, khoảng cách giữa VinaPhone với hai doanh nghiệp dẫn đầu thị trường đã được thu hẹp đáng kể.

VINAPHONE tăng trưởng đáng kể

 Theo Sách trắng CNTT&TT năm 2014, hạ tầng mạng viễn thông và Internet vẫn phát triển bền vững với tổng doanh thu viễn thông đạt 7,4 tỷ USD trong năm 2013. Tổng băng thông kết nối Internet quốc tế đạt trên 640.000 Mbit/s, tăng tới gần 83% so với năm 2012.  Tổng số thuê bao điện thoại đạt 130 triệu thuê bao, trong đó thuê bao di động chiếm 95%.

Đại diện Vụ CNTT thuộc Bộ TT&TT, đơn vị chủ trì soạn thảo Sách Trắng CNTT-TT năm 2014 cho hay, thị trường viễn thông Việt Nam năm 2013 tiếp tục có nhiều biến động do tác động của các chính sách quản lý siết chặt cũng như do ảnh hưởng của những ứng dụng OTT. Điều này thể hiện ở việc tổng số thuê bao di động chỉ còn 123,7 triệu, giảm 8 triệu thuê bao, tương đương 6% so với năm 2012. Trong đó, thuê bao di động 3G đạt 19,7 triệu thuê bao, tăng 4 triệu thuê bao, tương ứng với 25,4% so với năm 2012. Thuê bao điện thoại cố định tiếp tục giảm, đạt trên 6,7 triệu thuê bao. Tuy nhiên, tốc độ tăng trưởng của thị trường 3G lại đang cho thấy những xu hướng tích cực, khi mà thoại và SMS truyền thống đang có dấu hiệu bão hòa và sụt giảm. Cụ thể, số thuê bao 3G trong năm qua đã tăng thêm 4 triệu thuê bao, cao hơn 25% so với năm trước đó.

Đáng chú ý, trong năm 2013, thị trường cung cấp dịch vụ viễn thông di động (cả 2G, 3G) có sự góp mặt của 5 doanh nghiệp gồm: Viettel, VinaPhone, MobiFone, Gmobile và Vietnamobile. Trong đó, Viettel chiếm gần 43,5% thị phần. Thị phần dịch vụ viễn thông di động của MobiFone và VinaPhone năm 2013 lần lượt đạt trên 31,7% và hơn 17,4%. Trong đó, nếu xét riêng về thị phần thuê bao dịch vụ 2G, Viettel vẫn dẫn đầu, chiếm hơn 43,8%. Còn đối với thị trường 3G, thì khoảng cách giữa VinaPhone với hai đối thủ hàng đầu thị trường đã được thu hẹp đáng kể. Cụ thể, nhà mạng này kiểm soát khoảng 22,52% thị trường 3G, trong khi MobiFone là 33,56% và Viettel là 41.76%.

FIBERVNN - VNPT

Ở lĩnh vực Internet băng rộng, theo thống kê năm 2013, tổng số thuê bao Internet băng rộng của Việt Nam đạt trên 22,4 triệu thuê bao, tăng 11,2% so với năm 2012, đạt tỷ lệ 24,93 thuê bao/ 100 dân. Và mặc dù doanh thu các dịch vụ viễn thông cơ bản như thoại, nhắn tin bị suy giảm nhưng doanh thu dịch vụ Internet vẫn đạt mức kỷ lục, đạt 965 triệu USD, tăng gấp đôi với năm 2012. Về thị phần, trong số 8 doanh nghiệp đang triển khai kinh doanh dịch vụ này, năm 2013, thị phần của VNPT lớn nhất, chiếm tới trên 51,2%; tiếp đó là Viettel với số thuê bao chiếm gần 39%. 

Sách Trắng CNTT&TT Việt Nam là tài liệu thường niên của Bộ TT&TT từ năm 2009 nhằm cung cấp các thông tin, số liệu chính thức về ngành CNTT-TT. Đây là năm thứ sáu Ủy ban Quốc gia về ứng dụng CNTT (trước đây là Ban Chỉ đạo quốc gia về CNTT) và Bộ TT&TT phối hợp cùng các Bộ, ngành, địa phương liên quan, các doanh nghiệp và cơ sở đào tạo trên cả nước để xây dựng và xuất bản ấn phẩm này.

 

 

Từ ngày 1/4/2015, ít nhất 90% số lần mất kết nối Internet băng rộng cố định mặt đất phải được doanh nghiệp khắc phục trong 36 giờ với khu vực nội thành.

Ngày 2/10/2014, Bộ trưởng Bộ TT&TT Nguyễn Bắc Son đã ký Thông tư 12/2014/TT-BTTTT ban hành “Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng dịch vụ truy nhập Internet băng rộng cố định mặt đất” (QCVN 34:2014/BTTTT). Dịch vụ truy nhập Internet băng rộng cố định mặt đất là dịch vụ truy nhập Internet được cung cấp thông qua mạng viễn thông cố định mặt đất dựa trên các công nghệ khác nhau có tốc độ tải xuống từ 256 kbit/s trở lên.

Có hiệu lực thi hành từ 1/4/2015, “Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng dịch vụ truy nhập Internet băng rộng cố định mặt đất” sẽ thay thế cho “Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng dịch vụ truy nhập Internet ADSL” (QCVN 34:2011/BTTTT) được ban hành kèm theo Thông tư 11/2011/TT-BTTTT ngày 26/5/2011.

Theo đó, kể từ tháng 4/2015, các DN cung cấp dịch vụ truy nhập Internet băng rộng cố định mặt đất (gọi tắt là DN cung cấp dịch vụ Internet băng rộng) phải đảm bảo cung cấp dịch vụ cho khách hàng với chất lượng phù hợp với các mức chỉ tiêu chất lượng được quy định tại Quy chuẩn QCVN 34:2014/BTTTT.

Quy chuẩn quy định, DN cung cấp dịch vụ Internet băng rộng phải đảm bảo chỉ tiêu thời gian khắc phục mất kết nối đạt mức tối thiểu 90% số lần mất kết nối được khắc phục trong thời gian 36 giờ đối với địa bàn nội thành, thị xã và 72 giờ đối với các khu vực thị trấn, xã, làng.

Thời gian khắc phục mất kết nối được tính từ lúc DN cung cấp dịch vụ nhận được thông báo về việc mất kết nối Internet từ phía khách hàng hoặc từ hệ thống thiết bị của DN đến lúc kết nối được khôi phục. Chỉ tiêu thời gian khắc phục mất kết nối được xác định theo phương pháp thống kê, với việc thống kê đầy đủ số liệu khắc phục mất kết nối trong thời gian tối thiểu là 3 tháng liên tiếp.

 

Bên cạnh đó, với chỉ tiêu thời gian thiết lập dịch vụ, trường hợp đã có sẵn đường dây thuê bao, DN phải đảm bảo tối thiểu 90% số hợp đồng cung cấp dịch vụ có thời gian thiết lập dịch vụ trong 5 ngày. Với trường hợp chưa có đường dây thuê bao, ít nhất 90% số hợp đồng cung cấp dịch vụ phải có thời gian thiết lập dịch vụ trong khoảng 12 ngày với khu vực nội thành, thị xã và trong 20 ngày đối với khu vực thị trấn, làng, xã.

Ngoài ra, Quy chuẩn cũng quy định cụ thể về các chỉ tiêu chất lượng khác như: tỷ lệ đăng nhập hệ thống thành công đạt từ 95% trở lên; độ khả dụng của dịch vụ phải đạt từ 99,5% trở lên; tỷ lệ khiếu nại của khách hàng về chất lượng dịch vụ phải nhỏ hơn hoặc bằng 0,25 khiếu nại/100 khách hàng/3 tháng liên tiếp; DN phải có văn bản hồi âm cho 100 % khách hàng khiếu nại trong thời hạn 2 ngày làm việc kể từ thời điểm tiếp nhận khiếu nại…

“Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng dịch vụ truy nhập Internet băng rộng cố định mặt đất” áp dụng đối với cơ quan quản lý nhà nước và các DN cung cấp dịch vụ truy nhập Internet băng rộng cố định mặt đất để thực hiện quản lý chất lượng dịch vụ này theo các quy định của Nhà nước và Bộ TT&TT.

Hotline đăng ký dịch vụ 24/7
Chat/ Call Whatsapp: 0886.00.11.66  Chat/ Call Zalo: 0886.00.11.66  Chat/ Call Viber: 0886.00.11.66  Chat/ Call Skype

0886.00.11.66

Chat/ Call: 0886.116.116  Chat/ Call: 0886.116.116  Chat/ Call Viber: 0886.116.116  Chat/ Call Skype

0916.31.0606

  Chat/ Call: 0886.116.116  Chat/ Call: 0886.116.116  Chat/ Call Viber: 0886.116.116  Chat/ Call Skype

    028.38.686.686

  ----------------------------- 

Tổng đài Hỗ Trợ Kỹ Thuật
CSKH - Cước: 18001166

 

Tham gia mạng xã hội VNPT

 pinterest-logo   youtube-logo   Facebook-logo   LinkedIn-logo   Twitter-logo  

Chương trình khuyến mãi

Gói Cước Home Đỉnh 100 Mbps Của VNPT - Đỉnh Cao Tốc Độ Trọn Bộ Giá Rẻ

  danh sach so vinaphone 088, kho so 088, kho số vinaphone 088, thue bao vinaphone 088, cho so vinaphone 088

 

  1. Xem nhiều
  2. Bài mới
  3. Tags
134906125
Hôm nay
Tháng này
Tất cả
29916
2417251
134906125